QUY ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT DÂN SỰ VỀ LÃI SUẤT CHO VAY

(bài trong chuyên mục “MỖI TUẦN MỘT VẤN ĐỀ”)

Tuần trước, chúng ta đã bàn về một vấn đề của pháp luật hình sự – tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Điều 175 BLHS(đăng trong fb của Nguyễn Thị Tuyết); vấn đề của tuần này sẽ là LÃI SUẤT CHO VAY.
Như chúng ta đã biết, Bộ luật dân sự năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 và bộ luật này đã có hiệu lực từ 01/1/2017. Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.

Trong khi BLDS năm 2005 (nay đã hết hiệu lực) quy định lãi suất cho vay không vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định.
Như vậy, lãi suất mà cá nhân, tổ chức cho vay không được vượt quá 1,666%/tháng. Nếu cho vay trên mức này sẽ không có hiệu lực và bị coi là vi phạm hành chính (nếu cho vay trên 1,666% và dưới 8,333%) hoặc vi phạm hình sự (là tội phạm) nếu cho vay từ 8,333%/tháng trở lên. Bởi vì, Bộ luật hình sự hiện hành đã quy định về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Chỉ mất 2 phút bạn đã có thêm một kiến thức về pháp luật dân sự. Trong vấn đề của tuần trước, đã có rất nhiệu bạn chia sẻ thông tin này cho nhiều người cùng biết. Tuần này, mong các bạn tiếp tục đón nhận và share cho nhiều người để pháp luật được lan tỏa rộng rãi! XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN MỌI NGƯỜI ĐÃ ĐỌC VÀ CHIA SẺ!
MỖI LƯỢT CHIA SẺ LÀ BẠN ĐÃ GÓP PHẦN PHỔ BIẾN VÀ LAN TỎA PHÁP LUẬT TRONG CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI!


Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *