Những điểm mới cơ bản trong phần chung của Bộ Luật Hình Sự năm 2015

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH  VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO SỬA ĐỔI BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015

  1. Sự cần thiết ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

Bộ luật hình sự năm 2015 được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015 tại Kỳ họp thứ 10; Chủ tịch nước công bố ngày 09 tháng 12 năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.

Việc ban hành Bộ luật hình sự năm 2015, trước hết nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Bộ luật hình sự năm 1999 và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Những hạn chế, bất cập của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sủa đổi, bổ sung năm 2009) đáng chú ý là:

Thứ nhất, BLHS năm 1999 còn mang đậm dấu ấn của thời kỳ đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, chưa thực sự phát huy tác dụng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các nhân tố tích cực của kinh tế thị trường để nền kinh tế phát triển lành mạnh. Đồng thời, BLHS 1999 chưa kịp thời tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội xuất hiện trong nền kinh tế thị trường như các tội phạm trong các lĩnh vực: kinh doanh, thương mại; tài chính, ngân hàng; thuế, bảo hiểm, chứng khoán; tội phạm trong lĩnh vực môi trường; lạm dụng lao động trẻ em; chiếm đoạt, mua bán trái phép mô tạng, các bộ phận cơ thể người; lợi dụng bán hàng đa cấp để chiếm đoạt tiền, tài sản; các hành vi phạm tội xuyên quốc gia… Do vậy, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

          – Thứ hai, BLHS năm 1999 chưa thể chế hoá được một cách đầy đủ những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Thứ ba, BLHS năm 1999 chưa nội luật hóa các hành vi được coi là tội phạm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự quốc tế và nội  dung của Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Nhà nước ta đã tham gia nhiều Công ước quốc tế và khi đã là  thành viên công ước quốc tế thì phải có trách nhiệm, nghĩa vụ nội luật hóa các nội dung Công ước để loại trừ xung đột pháp luật giữa luật quốc tế và luật quốc gia.

 

  1. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Bộ luật hình sự năm 2015

Việc xây dựng và ban hành bộ luật hình sự năm 2015 được thực hiện theo các quan điểm chỉ đạo sau đây:

– Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ, toàn diện các chủ trương, đường lối của Đảng thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Trong đó, chú ý xây dựng các quy định có tính chất hướng thiện khi xử lý tội phạm, bảo đảm tính nhân đạo, giúp người phạm tội sau khi bị xử lý quay trở về với cộng đồng một cách bền vững.

– Thứ hai, cụ thể hóa và tạo cơ sở pháp lý bảo đảm thi hành Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm mọi người được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh; đồng bộ với các luật, bộ luật đã được ban hành cũng như các luật, dự luật đang được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới.

– Thứ ba, kế thừa, phát triển các quy định còn phù hợp của BLHS hiện hành; bổ sung những quy định mới để giải quyết những vướng mắc, bất cập đang đặt ra trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự nhằm bảo đảm tính thống nhất nội tại của BLHS và tính thống nhất của hệ thống pháp luật; nâng cao tính minh bạch, khả thi và tính dự báo của BLHS.

– Thứ tư, đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà trọng tâm là đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, về chính sách xử lý đối với một số loại tội phạm và loại chủ thể phạm tội; khuyến khích mọi người dân chủ động tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số nước trong khu vực và trên thế giới.

– Thứ năm, nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến phòng, chống tội phạm, đặc biệt là Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Công ước chống tham nhũng; Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác; Công ước chống bắt cóc con tin năm 1979; Công ước Luật biển năm 1982; các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF).

  1. NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG PHẦN CHUNG BLHS 2015

Bộ luật hình sự năm 2015 gồm 426 điều được chia thành ba phần. Phần chung BLHS bao gồm 107 điều, chia thành 12 chương quy định về: Điều khoản cơ bản; Hiệu lực của Bộ luật hình sự; Tội phạm; Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễm trách nhiệm hình sự; Hình phạt; các biện pháp tư pháp; Quyết định hình phạt; Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt; Xóa án tích; Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội; Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, thì quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về những quy định chung có những điểm mới cơ bản sau đây:

  1. Điều khoản cơ bản

Chương về Điều khoản cơ bản quy định về những vấn đề mang tính cốt lõi của pháp luật hình sự gồm: Nhiệm vụ của Bộ luật, cơ sở của trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý và trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm. So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, nội dung này có những điểm mới sau đây:

– Thứ nhất, tại Điều 1 “Nhiệm vụ của BLHS” bổ sung nhiệm vụ “bảo vệ chủ quyền quốc gia”, “bảo vệ quyền con người” và sắp xép lại thứ tự các nhiệm vụ của Bộ luật hình sự. Theo đó, BLHS năm 2015 có năm nhiệm vụ chủ yếu: một là, bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước; hai là, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc; ba là, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức; bốn là, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; năm là, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Việc bổ sung các nhiệm vụ nêu trên và sắp xếp lại thứ tự các nhiệm vụ của Bộ luật hình sự nhằm thể chế quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 về: Chế độ chính trị “Nước Cộng hìa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vện lãnh thổ, bao gồm đát liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”; sự công nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người của Nhà nước ta và xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo vệ các quan hệ xã hội bằng pháp luật hình sự.

– Thứ hai, “Cơ sở của trách nhiệm hình sự” đã quy định mới chính sách hình sự đối với pháp nhân thương mại. Theo BLHS năm 2015, thì không chỉ có cá nhân mà pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Về phạm vi trách nhiệm hình sự, thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hai nhóm tội là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về môi trường được quy định tại Điều 76 của BLHS năm 2015. Trong số 31 tội phạm đó có 22 tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và 09 tội phạm về môi trường.

– Thứ ba, Bổ sung nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội và thiết kế lại về kỹ thuật lập pháp. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc “khoan hồng với người đầu thú – điểm d khoản 1”; “tha tù trước thời hạn có điều kiện – điểm e khoản 1” (Điều 3) khi xử lý cá nhân phạm tội.

Về nguyên tắc xử lý pháp nhân thương mại phạm tội, thì ngoài hai nguyên tắc xử lý như cá nhân phạm tội “Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật; Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế”; Khoản 2 Điều 3 BLHS bổ sung hai nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

+ Một là, “Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”;

+ Hai là, “Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra”.

  1. Hiệu lực của Bộ luật hình sự

Tại Chương II BLHS quy định hiệu lực của BLHS về không gian và thời gian. So với quy định của BLHS năm 1999, thì quy định của BLHS năm 2015 về hiệu lực của BLHS có một số điểm mới sau đây:

– Thứ nhất, “Hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 5) bổ sung hai điểm mới:

+ Một là, hiệu lực của BLHS “đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam – đoạn 2 khoản 1.” Theo đó, những trường hợp sau đây bị coi là phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam: Hành vi phạm tội trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam khi tàu bay, tàu biển đó đang ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc hành vi phạm tội được thực hiện tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam; Hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

+ Hai là, đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì việc giải quyết (trước hết) theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế. Trường hợp, điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế về vấn đề đó thì mới giải quyết bằng con đường ngoại giao (thương lượng giải quyết theo từng vụ việc, từng trường hợp cụ thể)[1]. Việc bổ sung quy định này xuất phát từ trách nhiệm của Việt Nam trong việc thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

– Thứ hai, “Hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 6) có ba điểm mới:

+ Một là, bổ sung quy định về hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Theo đó, công dân hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

+ Hai là, bổ sung quy định về hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại nước ngoài thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời làm rõ điều kiện người nước ngoài và pháp nhân thương mại nước ngoài có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS Việt Nam, nếu hành vi phạm tội đó xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc bổ sung quy định này xuất phát từ nguyên tắc hợp tác quốc tế trong việc phòng chống tội phạm theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.

+ Ba là, bổ sung quy định hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định. Quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc gia thành viên trong các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà Việt Nam là thành viên; cho phép Việt Nam tham gia tích cực hơn trong việc hợp tác quốc tế trong việc xử lý tội phạm, đặc biệt là các tội cướp biển, bắt cóc con tin.

– Thứ ba, “Hiệu lực của BLHS về thời gian” bổ sung hai điểm mới. Theo đó, điều luật quy định hạn chế phạm vi áp dụng chế định loại trừ trách nhiệm hình sự, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Còn điều luật mở rộng phạm vi áp dụng chế định loại trừ trách nhiệm hình sự, tha tù trước thời hạn có điều kiện, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Do vậy, kể từ ngày BLHS được công bố, Nghị quyết 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc thi hành Bộ luật hình sự chỉ rõ:

+ Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình cũng như không áp dụng hình phạt tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử; trường hợp đã tuyên hình phạt tử hình đối với họ nhưng chưa thi hành án, thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân.

Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của BLHS năm 2015 (người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn), thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân.

+ Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà BLHS năm 1999 quy định là tội phạm nhưng BLHS năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính. Nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

+ Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và các điểm b, c khoản 2 Điều 14 của BLHS năm 2015; nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

+ Những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định trên thì đương nhiên được xóa án tích.

Kể từ ngày BLHS có hiệu lực thi hành (ngày 01/07/2016): [2]

+ Tất cả các điều khoản của BLHS năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01/7/2016.

+ Các quy định sau đây có hiệu lực trở về trước: (1) quy định xóa bỏ một tội phạm, xóa bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; (2) quy định mở rộng phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích; (3) quy định khác có lợi cho người phạm tội. Theo đó, các quy định này được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.

+ Các quy định sau đây không có hiệu lực đối với các hành vi thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016: Quy định về tội phạm mới tại các điều 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 292, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của BLHS năm 2015; Quy định bổ sung hành vi phạm tội mới, quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; Quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích; Quy định khác không có lợi cho người phạm tội. Các trường hợp này vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 để giải quyết.

+ Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016, thì không được căn cứ vào những quy định của BLHS năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01/7/2016, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo các quy định trên đây về các trường hợp có hiệu lực hồi tố hoặc không có hiệu lực hồi tố.

Quy định về những trường hợp có hoặc không có hiệu lực trở về trước trên đây cũng được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong BLHS năm 1999.

+ Các tình tiết có tính chất “định tính” như: “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”…đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 thì vẫn áp dụng quy định của BLHS năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

+ Đối với 04 hành vi phạm tội theo BLHS năm 1999: Hoạt động phỉ; đăng ký kết hôn trái pháp luậ; kinh doanh trái phé; cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, mặc dù, trong BLHS năm 2015 không còn tên các tội danh này nhưng về bản chất không phải là đã phi tội phạm hóa mà BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa các hành vi thành các tội cụ thể. Đối với các hành vi này xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của BLHS năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án, thì không được căn cứ vào việc BLHS năm 2015 không quy định các tội danh này để kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về các tội này đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về các tội danh này mà áp dụng quy định của BLHS năm 2015 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo tội danh tương ứng;

+ Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245 và 246 của BLHS năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi vi phạm của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016.

  1. Chương III. Tội phạm

Tội phạm là một chế định cơ bản, quan trọng của pháp luật hình sự. Tại Chương III của BLHS năm 2015 có 12 điều (từ Điều 8 đến Điều 19) quy định về chế định tội phạm, bao gồm: khái niệm tội phạm; phân loại tội phạm; cố ý phạm tội; vô ý phạm tội; tuổi chịu trách nhiệm hình sự; phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác; chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; đồng phạm; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm. So với BLHS năm 1999, có 04 điều được giữ nguyên (Điều 9. Cố ý phạm tội; Điều 10. Vô ý phạm tội; Điều 15. Phạm tội chưa đạt và Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội); 01 điều được bổ sung mới (Điều 9) về phân loại tội phạm (tách khoản 2 Điều 8 của BLHS 1999) và 07 điều được sửa đổi về cơ bản. So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, thì quy định tại Chương III Bộ luật hình sự năm 2015 về chế định tội phạm có một số điểm mới sau đây:

– Thứ nhất, tại khoản 1 Điều 8 “Khái niệm tội phạm” như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Như vậy, BLHS năm 2015 bổ sung: Pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm; quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân làm khách thể của tội phạm. Việc bổ sung các nội dung nêu trên là sự thể chế hóa quan điểm buộc pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm mà pháp nhân đã thực hiện, tạo cơ sở pháp lý đấu tranh phòng chống các hành vi xâm phạm lợi ích cộng đồng của pháp nhân, nhất là trong điều kiện nền kinh tế đang vận hành theo cơ chế thị trường.

 – Thứ hai, Điều 9 “Phân loại tội phạm”  được tách ra từ  khoản 2 Điều 8 của BLHS năm 1999 và cơ bản vẫn giữ nguyên cách phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Theo đó, tội phạm được phân chia thành bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng; tội phạm nghiêm trọng; tội phạm rất nghiêm trọng; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, so với BLHS năm 1999, thì quy định về mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội có hai điểm mới:

+ Một là, quy định loại và mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội. Theo đó: Tội ít nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm; Tội nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 03 năm đến 07 năm tù; Tội rất nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 07 năm đến 15 năm tù; Tội đặc biệt nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 15 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân hoặc tử hình. Việc sửa đổi quy định này nhằm khắc phục bất cập của Bộ luật hình sự là chỉ quy định điểm cuối mà không quy định điểm bắt đầu để xác định mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội, dẫn đến cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho việc xác định loại tội, đồng thời tăng tính rõ ràng, minh bạch của Bộ luật.

+ Hai là, đối với tội ít nghiêm trọng, ngoài căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt, có thể căn cứ vào hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ để xác định loại tội phạm.

– Thứ  ba, tại Điều 12 “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự” có hai điểm mới sau đây:

+ Một là, mặc dù tại khoản 1 Điều 12 của BLHS năm 2015 tiếp tục quy định Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm nhưng có bổ sung cụm từ trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Việc bổ sung quy định này nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa quy định tại phần chung của BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự với quy định ở Phần các tội phạm về các tội phạm có chủ thể đặc biệt.

+ Hai là, thu hẹp đáng kể phạm vi trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, đồng thời chỉ rõ những tội danh mà các em phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của BLHS năm 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 29 tội danh được nêu tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Bộ luật hình sự.[3] Theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc 26 tội danh, còn đối với 03 tội danh khác (cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản) thì phải chịu trách nhiệm hình sự kể cả trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Như vậy, đối với 03 tội danh này thì phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có mở rộng hơn so với BLHS năm 1999. Quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS thể hiện chính sách hướng thiện đối với trẻ em, bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, góp phần nâng cao tính minh bạch của BLHS; nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với các em ở độ tuổi này.

– Thứ tư, tại Điều 13 “Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác” về cơ bản, vẫn kế thừa quy định tại Điều 14 của BLHS năm 1999, nhưng có hai điểm mới:

+ Một là, thay cụm từ “phạm tội trong tình trạng say” rất chung chung trong BLHS năm 1999 bằng các dấu hiệu “phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”. Việc thay đổi đó xuất phát từ bản chất của dấu hiệu “lỗi” là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra. Lỗi của người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh thể hiện ở việc họ tự đặt mình vào tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

+ Hai là, bổ sung trường hợp phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do “bia”.

 – Thứ năm, tại Điều 14 “Chuẩn bị phạm tội”  có ba điểm mới:

+ Một là, làm rõ nội hàm khái niệm “chuẩn bị phạm tội”. Theo đó, ngoài việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm, thì hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm cũng bị coi là chuẩn bị phạm tội trừ trường hợp điều luật quy định đó là hành vi khách quan của tội phạm. Ví dụ: Điều 109,  Điều 113, Điều 299. Việc bổ sung phạm trù khái niệm chuẩn bị tội phạm là nội luật hóa Công ước của Liên hợp quốc ngày 05/11/2000 về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà Việt Nam là thành viên.

+ Hai là, Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý hình sự đối với người có hành vi chuẩn bị phạm tội. Theo đó, người có hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 24 tội phạm thuộc 04 nhóm tội phạm (các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm an toàn công cộng) [4]. Về kỹ thuật lập pháp, thì Bộ luật hình sự năm 2015 quy định một khung hình phạt độc lập về trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội.

Ở đây có điểm cần chú ý: Về sự mâu thuẫn giữa quy định tại Phần chung với Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự mà nguyên nhân là sự thiếu sót trong việc liệt kê các điều luật cụ thể Phần các tội phạm quy định trách nhiệm hình sự của người chuẩn bị phạm tội ở Điều 14 Bộ luật hình sự (không quy định người chuẩn bị phạm tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả phải chịu trách nhiệm hình sự). Tuy nhiên, khoản 4 Điều 207 lại quy định người chuẩn bị phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

Vấn đề này đang chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

+ Ba là, Điều 14 Bộ luật hình sự năm 2015 dành một khoản riêng để quy định về trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội của người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi. Theo quy định này, thì người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị thực hiện một trong bốn tội phạm: Tội giết người; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội cướp tài sản; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

– Thứ sáu, bổ sung quy định “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”.

– Thứ bảy, tại Điều 18 “Che giấu tội phạm” bổ sung quy định về việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng khác được quy định tại Điều 389 của BLHS. Quy định này phù hợp với truyền thống đạo lý gia đình của người Việt Nam. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự của những người thân thích của người phạm tội trong trường hợp này vô hình chung phá vỡ truyền thống đạo lý của gia đình Việt Nam.

– Thứ tám, bổ sung quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa trong trường hợp không tố giác tội phạm. Theo đó, về nguyên tắc thì người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà mình biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại chương XIII hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác được quy định tại Điều 389 của BLHS (khoản 3 Điều 19 BLHS 2015). Việc bổ sung quy định này xuất phát từ nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, quy định của pháp luật về nghề nghiệp luật sư là bảo vệ thân chủ.

  1. Chương IV. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Tại Chương IV quy định bảy trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự: Sự kiện bất ngờ (Điều 20); Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21); Phòng vệ chính đáng (Điều 22); Tình thế cấp thiết (Điều 23); Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24); Rủi ro trong nghiên cứu, thí nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25); Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26). Như vậy, so với BLHS năm 1999, thì BLHS năm 2015 về những trường hợp loại trừ trách nhiêm hình sự có một số điểm mới sau đây:

Thứ nhất, tại Điều 22 “Phòng vệ chính đáng” và Điều 23 “Tình thế cấp thiết” đảo cụm từ “vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác” ở Điều 22 và cụm từ  vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác” ở Điều 23 lên trước cụm từ “lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức” trong trường hợp phòng vệ chính đáng. Việc đảo vị trí của quyền hoặc lợi ích chính đáng (quyền hoặc lợi ích hợp pháp) của con người, của công dân lên trước lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức là phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013, ưu tiên bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

– Thứ hai, quy đinh mới ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, gồm: Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24); Rủi ro trong nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25); Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26). Sự bổ sung này là cần thiết nhằm phát huy trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm của người có trách nhiệm cũng như công dân bắt giữ người phạm pháp, khơi dậy nhiệt huyết và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân vào hoạt động nghiên cứu khoa học và sản xuất, góp phần thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong phát triển kinh tế.

  1. Chương V. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự

So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, thì quy định tại Chương V Bộ luật hình sự năm 2015 về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự có một số điểm mới sau đây:

– Thứ nhất, tại Điều 27 quy định “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” thay từ “tự thú” bằng từ “đầu thú” tại khoản 3 Điều 27 là bảo đảm phù hợp bởi thực tế bởi người đã bị truy nã thì chỉ có thể đầu thú.

Thứ hai, tại Điều 23 bổ sung quy định không áp dụng thời hiệu đối với tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3, khoản 4 các Điều 353 và 354 BLHS. Việc bổ sung quy định này nhằm góp phần tăng cường đấu tranh phòng, chống các tội phạm tham nhũng.

Thứ ba, tại Điều 29 “Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự” có điểm mới là:

+ Một là, điều luật phân định rõ hai loại căn cứ miễn trách nhiệm hình sự: Căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự; Căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Ở đây cần lưu ý là theo khoản 1 Điều 25 của BLHS năm 1999 thì trường hợp “do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” là một trong những căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng theo BLHS năm 2015 thì trường hợp này được chuyển thành căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 2 Điều 29). Nghĩa là, trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng phải cân nhắc, xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định miễn hay không miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo.

+ Hai, tại điểm a khoản 1 Điều 29 thay cụm từ “do chuyển biến của tình hình” bằng cụm từ “do có sự thay đổi chính sách, pháp luật”. Theo đó, trong trường hợp vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, nhưng do có sự thay đổi chính sách, pháp luật mà làm cho hành vi phạm tội đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự (BLHS đã phi tội phạm hóa đối với tội phạm đó; Hành vi phạm tội vẫn còn quy định trong BLHS do chưa kịp sửa đổi, bổ sung nhưng pháp luật chuyên ngành về lĩnh vực đó đã có sự thay đổi dẫn đến hành vi đó không còn bị nghiêm cấm nữa).

+ Ba, Bộ luật đã bổ sung thêm 02 căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự: (1) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; (2) Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Quy định này nhằm tăng cường xử lý hành vi phạm tội bằng hòa giải, thương lượng, hàn gắn quan hệ trong nhân dân và giảm thiểu các vụ án không cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự.

  1. Chương VI. Hình phạt

Chế định hình phạt được quy định tại Chương VI, từ Điều 30 đến Điều 45 của BLHS năm 2015. Chương này đã bổ sung hệ thống hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội (các Điều 33, 35, 38 và 40) với hình phạt chính bao gồm phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; hình phạt bổ sung bao gồm cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn và phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Chế định về hình phạt được BLHS năm 2015 sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ; hạn chế áp dụng và thi hành hình phạt tử hình. Việc sửa đổi đó là việc thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo hướng “Đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”, đồng thời, góp phần bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và hiệu quả của hệ thống hình phạt.

Về loại hình phạt  “Cải tạo không giam giữ”, có ba điểm mới sau đây:

         + Một là, cụ thể hóa nội dung cải tạo không giam giữ đối với người không có việc làm. Theo đó, người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm ổn định hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong một thời hạn nhất định (không quá 4 giờ/một ngày và không quá 5 ngày/một tuần) do Tòa án quyết định. Quy định này thể hiện quan điểm giáo dục cải tạo người phạm tội thông qua lao động. Trên cơ sở quy định này, Tòa án sẽ quyết định loại công việc và thời gian lao động cụ thể mà người bị kết án phải thực hiện căn cứ vào độ tuổi, tình trạng sức khỏe, khả năng và hoàn cảnh, điều kiện thực tế của người phạm tội.

Khi áp dụng điều luật này cần chú ý: BLHS năm 2015 cũng quy định rõ không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với năm đối tượng người bị kết án cải tạo không giam giữ sau đây: Phụ nữ đang có thai; Phụ nữ đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi; Người già yếu; Người bị bệnh hiểm nghèo; Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

+ Hai là, không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự. Bởi những người đó không có thu nhập (lương) hàng tháng mà chỉ có một khoản phụ cấp tiêu vặt để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt thiết yếu.

+ Ba la, quy định về cách thức việc khấu trừ thu nhập của người bị kết án cải tạo không giam giữ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự, thì trong thời gian chấp hành án, người bị kết án hàng tháng bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước.

Điều 38 quy định về “Tù có thời hạn” có hai điểm sửa đổi, bổ sung theo tinh thần cải cách tư pháp Đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm”. Lần đầu tiên BLHS xác định rõ: Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng (khoản 2 Điều 38).

Điều 40 “Tử hình” có 03 điểm sửa đổi, bổ sung theo tinh thần cải cách tư pháp hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, từng bước cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về quyền sống của con người đồng thời phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay là thu hẹp dần phạm vi áp dụng hình phạt tử hình. Đó là:

– Bộ luật hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình đối với 07 tội danh: Tội cướp tài sản; Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt chất ma túy; Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Tội chống mệnh lệnh; Tội đầu hàng địch. Hình phạt tử hình cũng bị bãi bỏ đồng thời với việc bãi bỏ tội phạm này.

Như vậy, hình phạt tử hình có thể áp dụng đối với 05 nhóm tội phạm là: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; Các tội xâm phạm tính mạng con người; Các tội phạm về ma túy; Các tội phạm tham nhũng; và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác (như các tội: sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; khủng bố; phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh). Trong số 314 Tội phạm cụ thể, có 18 tội phạm quy định hình phạt tử hình[5], giảm 11 tội so với BLHS năm 1999 và giảm 04 tội so với BLHS (sửa đổi năm 2009)[6].

– Không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên. Cho nên, khi xét xử người phạm tội chưa đủ 75 tuổi và bị kết án tử hình, thì không thi hành án tử hình nếu họ đã đủ 75 tuổi trở lên. Khi đó, hình phạt tử hình sẽ được chuyển thành tù chung thân. Quy định này là chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người bị kết án đã cao tuổi.

– Không áp dụng hình phạt tử hình đối với “Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản hoặc tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”. Trong trường hợp này, hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân. Việc quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với đối tượng nêu trên góp phần hạn chế hình phạt tử hình trên thực tế theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Và quan trong hơn là tạo cơ sở pháp lý thu hồi lại được các tài sản bị chiếm đoạt.

Bỏ quy định tước quyền “bầu cử”đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước.

Việc Bộ luật hình sự bỏ quy định tước quyền “bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước”; bởi người bị kết án vẫn là công dân Việt Nam và theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật bầu cử đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân nhân năm 2015, thì, quyền bầu cử là quyền đương nhiên của công dân. Quyền bầu cử chỉ bị hạn chế đối với người bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp và đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án. Mặt khác, hình phạt tước một số quyền công dân là hình phạt bổ sung mà người phạm tội phải chấp hành sau khi chấp hành xong hình phạt tù do vậy họ vẫn có quyền bầu cử.

Về “Tịch thu tài sản”, được sửa đổi theo hướng chỉ áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong bốn nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội phạm về ma tuý; tham nhũng và một số tội phạm khác do BLHS quy định.

  1. Chương VII. Các biện pháp tư pháp

Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt. Các biện pháp tư pháp được quy định tại Chương VII, từ Điều 46 đến Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015. So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, thì quy định tại về các biện pháp tư pháp tại BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:

– Thứ nhất, tại Điều 46 “Các biện pháp tư pháp” bổ sung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội, bao gồm: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; Buộc công khai xin lỗi; Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

– Thứ hai, tại Điều 47 “Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” có hai điểm sửa đổi, bổ sung về nội dung và kỹ thuật lập pháp:

+ Một là, bổ sung thêm: đối tượng vật, tiền liên quan đến tội phạm sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là “khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội” để đảm bảo sự đầy đủ, chính xác cũng như đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn áp dụng pháp luật; hình thức xử lý đối với vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là “tịch thu tiêu hủy” tại khoản 1.

+ Hai là, thay cụm từ “sung quỹ nhà nước” bằng cụm từ “sung vào ngân sách nhà nước” . Việc sửa đổi, bổ sung đó nhằm bảo đảm sự chính xác trong cách sử dụng thuật ngữ cũng như tạo cơ chế linh hoạt trong xử lý vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo hướng tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy, tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất và giá trị sử dụng của từng loại vật, tiền.

– Thứ ba, tại Điều 49 “Bắt buộc chữa bệnh” sửa đổi về nội dung và kỹ thuật nhằm bảo đảm chính xác, cụ thể và khoa học hơn của điều luật. Theo đó, thay cụm từ “kết luận của Hội đồng giám định pháp y” bằng cụm từ “kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần” cho phù hợp với Luật giám định tư pháp năm 2012.

  1. Chương VIII. Quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là việc Tòa án ấn định loại và mức hình phạt đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị tuyên bố phạm một tội theo quy định của Bộ luật hình sự. Chương VIII Bộ luật hình sự quy định căn cứ quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong các trường hợp phạm tội cụ thể. So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, thì quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về quyết định hình phạt có một số điểm mới sau đây:

– Thứ nhất, Bổ sung thêm căn cứ quyết định hình phạt: “Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội”. Theo đó, khi xem xét để áp dụng hình phạt tiền thì, Tòa án phải căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội để quyết định loại hình phạt và mức hình phạt cho phù hợp.

– Thứ hai, sửa đổi quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: (1) Bổ sung bốn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau đây: Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điểm đ); Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra (điểm l); Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng (điểm p); Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ, người có công với cách mạng (điểm x); (2) Tách các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ghép trong cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, thành các điểm khác nhau của khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 hoặc thay “dấu phẩy” bằng từ ‘hoặc” để khẳng định đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự độc lập; (3) Bổ sung tình tiết “đầu thú” làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc bổ sung tình tiết này giúp cho việc phân biệt giữa “tự thú” và “đầu thú” được rõ ràng hơn cả về mặt thuật ngữ cả về mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

– Thứ ba, sửa đổi quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bao gồm: (1) Thay cụm từ “phạm tội đối với trẻ em” bằng cụm từ “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”; và cụm từ “người già” bằng cụm từ “người đủ 70 tuổi trở lên”; (2) Bỏ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự về mức độ gây hạu quả bởi ội dung này đã được quy định là tình tiết định tội hoặc định khung tội phạm trong các điều luật về tội phạm cụ thể.  (3) Bỏ tình tiết “xâm phạm tài sản của Nhà nước” nhằm bảo đảm sự  bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. (4) Thay cụm từ “Xúi giục người chưa thành niên phạm tội” thành “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”.

Thứ tư, quy định mới “Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này”. Như vậy, đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên thì chỉ trừ trường hợp: vô ý phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; cố ý phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng mới bị coi là có án tích để áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm với lần phạm tội tiếp theo.

– Thứ năm, về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, quy định: “ Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm, nhưng có vai trò không đáng kể”. Việc bổ sung quy định tại khoản 2 đã khắc phục bất cập tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 và tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án đối với những trường hợp người phạm tội lần đầu, là người giúp sức, có vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm, nhưng bị truy tố và xét xử ở khung hình phạt nặng cùng với các đồng phạm khác.

– Thứ bảy, tại Điều 57 “Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt” thì:

+ Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, do hình phạt được quy định ngay trong các điều luật cụ thể được liệt kê tại Điều 14 Bộ luật hình sự. Do vậy, Tòa án chỉ được quyết định hình phạt đối với người chuẩn bị phạm tội khi điều luật cụ thể Phần các tội phạm Bộ luật hình sự có quy định khung hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và chỉ trong giới hạn của khung hình phạt đó.

+ Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, thì tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự quy định rõ hơn, dễ áp dụng hơn so với BLHS 1999. Cụ thể: “Nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn, thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”. Như vậy, Tòa án cũng không được áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người phạm tội chưa đạt, cho dù đó là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cao đến đâu chăng nữa thì.

  1. Chương IX. Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt

Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt là những chế định quan trọ ng của pháp luật hình sự. Tại Chương IX Bộ luật hình sự năm 2015 có 09 điều, từ Điều 60 đến Điều 68 quy định về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hiệu chấp hành hình phạt. So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, thì quy định tại  Chương IX Bộ luật hình sự năm 2015 có một số điểm mới sau đây:

     + Quy định cụ thể hơn thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình là 20 năm. Việc bổ sung quy định thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình nhằm khắc phục bất cập trong việc quy định tùy nghi của BLHS 1999 (khoản 4 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 1999). Theo quy định đó thì sau khi đã qua thời hạn 15 năm, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ quyết định việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tối cao.

+ Quy định thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại. Theo đó, thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

         + Bổ sung thêm những trường người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt nếu chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội, thì được  miễn chấp hành hình phạt. Quy định như vậy nhằm khuyến khích người phạm tội tự giác cải tạo; bổ sung quy định người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt vẫn có thể được miễn chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và không còn nguy hiểm cho xã hội.

           + Bổ sung một trường hợp miễn chấp hành hình phạt còn lại đối với người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt mà “chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội”.

+ Bổ sung nguyên tắc không loại trừ việc chấp hành các nghĩa vụ dân sự đối với người được miễn chấp hành hình phạt. Theo đó, người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều luật này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

+ Bổ sung điều kiện “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”để xem xét giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn và phạt tù chung thân. Tức là, “Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt”. Việc bổ sung quy định này thể hiện việc xét giảm án chặt chẽ hơn, nhằm khuyến khích người bị kết án thi hành các quyết định về dân sự trong bản án hình sự góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án trên cơ sở kết hợp giữa thi hành án hình sự với thi hành án dân sự.

+ Bổ sung quy định giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân. Theo đó, “Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm”. Việc bổ sung quy định này nhằm khắc phục bất cập của BLHS năm 1999 là không bảo đảm đảm sự công bằng giữa trường hợp một người thực hiện 01 tội phạm và bị áp dụng hình phạt tù chung thân và người thực hiện nhiều tội, trong đó có tội bị kết án tù chung thân và tổng hợp hình phạt chung là tù chung thân (theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Bộ luật hình sự năm 1999, thì “Người bị kết án phạt tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm”, không phân biệt hình phạt tù chung thân là hình phạt đối với một tội hay là hình phạt chung đối với nhiều tội).

+ Sửa đổi quy định về thời hạn đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới theo hướng quy định thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu dựa trên sự phân hoá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mới. Cụ thể: Đối với người được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý thì chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được ½ mức hình phạt chung; Đối với người được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì chỉ xét giảm lần đầu khi người đó đã chấp hành được 2/3 mức hình phạt chung). Đối với trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì thời hạn đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 15 năm tù và dù xét giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thực tế chấp hành hình phạt là 25 năm.

       + Bổ sung quy định về xét giảm án đối với người bị kết án tử hình đã được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp không thi hành án tử hình quy định tại điểm b khoản 3 Điều 40 (người đủ 75 tuổi trở lên) hoặc tại điểm c khoản 3 Điều 40 (người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn). Theo đó, đối với những người này, thì thời gian đã chấp hành hình phạt để xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.

Về “Án treo” có một số điểm sửa đổi, bổ sung sau đây:

+ Một là, tại khoản 1 Điều 65, bổ sung quy định về trách của người được hưởng án treo trong việc nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự trong thời gian thử thách. Theo đó, “…Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự”.

+ Hai là, tại khoản 3 Điều 65 quy định rõ việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo chỉ khi trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này. Theo đó, “Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này”.

+ Ba là, tại khoản 5 Điều 65, bổ sung quy định “nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”. Việc bổ sung quy định nêu trên nhằm tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành án treo.

Về chế định “Tha tù trước thời hạn có điều kiện”: Đây là chế định mới của pháp luật hình sự Việt Nam. Việc bổ sung chế định “Tha tù trước thời hạn có điều kiện” nhằm khuyến khích người phạm tội chấp hành tốt hình phạt tù có thời hạn và giảm tải số lượng người bị kết án phạt tù trong các cơ sở giam giữ. Qua đó nâng cao tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội và góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc giáo dục người phạm tội. Theo quy định tại Điều 66 Bộ luật hình sự, thì:

“1. Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

  1. a) Phạm tội lần đầu;
  2. b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
  3. c) Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;
  4. d) Có nơi cư trú rõ ràng;

đ) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự;

  1. e) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Trường hợp người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì thời gian đã chấp hành ít nhất là một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn;

  1. g) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.
  2. Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  3. a) Người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội khủng bố; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc người bị kết án từ 10 năm tù trở lên đối với tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con người; 07 năm tù trở lên đối với các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và sản xuất trái phép, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy;
  4. b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.
  5. Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.
  6. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.

Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách”.

Xét về khía cạnh xã hội thì đây là chính sách hướng thiện nhân đạo, giúp người phạm tội được tự do làm ăn nuôi mình, tự mình cải tạo với điều kiện nhất định; xét về khía cạnh kinh tế thì, đây là quy định phù hợp thực tiễn, khi mà số lượng người phải thi hành án quá đông, có nơi quá tải, và việc thực hiện chính sách này sẽ giảm chi phí của nhà nước cho các hoạt động quản lý phạm nhân.

  1. Chương X. Xóa án tích

Chương X của Bộ luật hình sự năm 2015 gồm 5 điều, từ Điều 69 đến Điều 73 quy định những vấn đề liên quan đến xoá án tích, các trường hợp không bị coi là có án tích. So với Bộ luật hình sự năm 1999, thì quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về án tích có một số điểm mới sau đây:

– Thứ nhất, tại Điều 69 Xóa án tích” có hai điểm bổ sung mới sau đây:

+ Khoản 1 Điều 69 bỏ quy định về việc Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích đã từng được quy định tại Điều 63 Bộ luật hình sự năm 1999, xóa bỏ thủ tục xin giấy chứng nhận đã được xoá án tích hết sức phức tạp, gây phiền hà cho người dân. Bởi lẽ. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì để được cấp Giấy chứng nhận đã được xóa án tích, người đã bị kết án phải xin rất nhiều thủ tục như giấy xác nhận đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án, xác nhận về việc không phạm tội mới…Trong khi, đây là trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc quản lý lý lịch tư pháp của công dân.

+ Hai là, bổ sung quy định mới về các trường hợp không coi là có án tích tại khoản 2 điều này. Theo đó, người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích. Trong đó, người được miễn hình phạt từng được BLHS 1999 quy định là đối tượng đương nhiên được xóa án tích thì nay được quy định là trường hợp không bị coi là có án tích tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 2015.

– Thứ hai, tại Điều 70Đương nhiên được xóa án tích” đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXV Bộ luật hình sự có một số điểm mới sau đây:

+ Một là, rút ngắn thời hạn để đương nhiên được xoá án tích đối với trường hợp bị kết án phạt tù giam, tù chung thân và tử hình nhưng được giảm án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015, thì người bị kết án và áp dụng hình phạt được ấn định thời hạn đương nhiên được xóa án tích với bốn trường hợp sau; (1) Người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo thì thời hạn là một năm; (2) Người bị phạt tù đến 05 năm thì thời hạn là hai năm; (3) Người bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm thì thời hạn là ba năm; (4) Người bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án thì thời hạn là năm năm. Như vậy, so với Bộ luật hình sự năm 1999, thì chỉ có trường hợp thứ nhất được giữ nguyên thời hạn; các trường hợp còn lại thời hạn đương nhiên được xóa án tích đều giảm.

Việc rút ngắn thời hạn để tính đương nhiên được xóa án tích có ý nghĩa rất lớn đối với người bị kết án. Bởi lẽ, án tích tác động và hạn chế việc thực hiện các quyền của người bị kết án; thời hạn để tính đương nhiên được xoá án tích càng dài thì mức độ ảnh hưởng tiêu cực càng lớn đến cuộc sống của người bị kết án và gia đình họ.

+ Hai là, BLHS năm 2015 xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong việc xoá án tích. Theo đó, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận. Việc bổ sung quy định này là luật hóa trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong quản lý, theo dõi xóa án tích của công dân và bảo đảm sự đồng bộ giữa quy định của Bộ luật hình sự với quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2010.

– Thứ ba, tại Điều 71 “Xóa án tích theo quyết định của Tòa án” đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI Bộ luật hình sự có hai điểm mới sau đây:

+ Một là, rút ngắn thời hạn để xoá án tích theo quyết định của Tòa án đối với trường hợp bị kết án và áp dụng hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tù, tù chung thân và tử hình (về một trong các tội phạm quy định tại Chương XIII và Chương XXVI Bộ luật hình sự) nhưng được giảm án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật hình sự năm 2015, thì người bị kết án và áp dụng hình phạt được ấn định thời hạn xóa án tích theo quyết định của Tòa án với ba trường hợp: (1) Người bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tù đến 05 năm thì thời hạn là ba năm; (2) Người bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm thì thời hạn là năm năm; (3) Người bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án thì thời hạn là bảy năm. Như vậy, so với quy định của BLHS năm 1999, thì thời hạn để xóa án tích đối với các trường hợp nêu trên đều giảm.

– Thứ tư, tại Điều 73 “Cách tính thời hạn để xóa án tích” có điểm mới đáng chú ý là: BLHS 2015 bổ sung quy định về cách tính thời hạn để xoá án tích đối với người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xoá án tích, có tội thuộc trường hợp xoá án tích theo quyết định của Toà án. Theo quy định tại khoản 3 Điều luật này, thì “Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòan thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 (xóa án tích theo quyết định của Tòa án) Bộ luật này, Tòa án quyết định việc xóan tích đối với người đó”.

  1. Chương XI. Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân lần đầu tiên được quy định trong Luật hình sự Việt Nam. Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân xuất phát từ thực tiễn xã hội là, đã có rất nhiều pháp nhân thực hiện hành vi nguy hiểm cho cộng đồng, xã hội mà Nhà nước chỉ có thể xử lý hành chính. Trong khi đó, có trường hợp tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do pháp nhân thực hiện còn nghiêm trọng và nguy hiểm hơn hành vi do cá nhân thực hiện (ví dụ như hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường, gay thiệt hại về sức khỏe con người và nền kinh tế). Và việc áp dụng các chế tài hành chính chưa đủ nghiêm khắc đối với pháp nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống các hành vi xâm hại nghiêm trọng lợi ích xã hội, cộng đồng. Do vậy, Nhà nước ta đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân tại Chương XI Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên, việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân mới chỉ tập chung vào pháp nhân thương mại và đối với hai nhóm tội là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về môi trường. Quy định tại Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” là quy định mới của Bộ luật hình sự do vậy, khi áp dụng Chương này cần chý ý một số điểm sau đây:

– Thứ nhất, về phạm vi áp dụng thì pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự và không trái với quy định tại Chương những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Điều đó có nghĩa, nếu quy định tại Phần chung của Bộ luật hình sự về cùng một vấn đề nào đó khác với quy định của Chương này thì áp dụng quy định của Chương này.

– Thứ hai, về điều kiện, thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ bốn điều kiện sau đây: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật hình sự.

Khi truy cứu trách nhiêm hình sự của pháp nhân cần chú ý quy định tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật hình sự “Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân”.

– Thứ ba, về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 76 quy định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm sau đây:

+ Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế quy định tại các Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã);

+ Các tội phạm về môi trường quy định tại: Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại).

– Thứ tư, theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật hình sự, thì các hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm: Phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Trong đó:

+ Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Theo quy định tại khoản 2 Điều 77 Bộ luật hình sự, thì “Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

        + Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. Theo quy định tại khoản 2 Điều 78 Bộ luật hình sự, thì thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.

         + Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động.

– Thứ năm, theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Bộ luật hình sự, thì các hình phạt bổ sung áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm: Phạt tiền; Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn. Trong đó:

+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội. Theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 80 Bộ luật hình sự, thì lĩnh vực kinh doanh hoạt hoạt động nào bị cấm phụ thuộc vào quyết định của Tòa án, thời hạn cấm từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

+ Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm: Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư; Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; Cấm huy động vốn khách hàng; Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản. Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn nêu trên với thời hạn từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.        

– Thứ năm, tại Điều 82 Bộ luật hình sự quy định năm biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội, bao gồm: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; Buộc công khai xin lỗi; Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Trong đó:

– Thứ sáu, về căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Theo quy định tại Điều 83 Bộ luật hình sự, thì khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Như vậy, căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội cơ bản như căn cứ quyết định hình phạt đối với cá nhân phạm tội.

– Thứ bảy, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Tại khoản 1 Điều 84 Bộ luật hình sự quy định năm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương  mại: Đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; Tích cực hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội. Nguyên tắc áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với pháp nhân tương tự như đối với cá nhân phạm tội.

– Thứ tám, về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Tại khoản 1 Điều 85 Bộ luật hình sự quy định sáu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại: Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội; Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm. Các tình tiết đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

– Thứ chín, việc quyết định hình phạt trong các trường hợp phạm nhiều tội và tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại các Điều 86, 87 Bộ luật hình sự. Theo đó: Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung; Hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với từng lĩnh vực cụ thể thì không tổng hợp; Hình phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác. Việc tổng hợp hình phạt bổ sung được thực hiện theo quy định: Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền được cộng lại thành hình phạt chung; Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì pháp nhân thương mại bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

– Thứ mười, việc miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội được thực hiện theo quy định tại Điều 88 Bộ luật hình sự. Theo đó, pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

– Thứ mười một, việc xóa án tích đối với pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định tại Điều 89 Bộ luật hình sự. Theo đó, pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.

  1. Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi (theo BLHS 1999 là người chưa thành niên) được quy định tại Chương XII với 18 điều luật, từ Điều 90 đến Điều 107. Việc sửa đổi, bổ sung về chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi trong BLHS 2015 được thực hiện theo hướng: Tiếp tục hoàn thiện quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội; Bổ sung các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự; Hoàn thiện hệ thống chế tài đối với người chưa thành niên phạm tội theo hướng tăng cường khả năng áp dụng các chế tài không tước tự do; Bổ sung các chế định pháp lý về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại; Hoàn thiện quy định về xoá án tích đối với người chưa thành niên bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các em tái hoà nhập cộng đồng.

So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”, thì quy định tại Chương XII của Bộ luật hình sự năm 2015 về Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”có những điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sử dụng cụm từ “người dưới 18 tuổi phạm tội” thay cho “người chưa thành niên phạm tội” và sửa đổi, bổ sung “Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” theo hướng ghi nhận đầy đủ và cụ thể hơn một số nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đã được quy định tại Công ước Quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế , nhất là Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. So với quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999, thì quy định tại Điều 91 có một số điểm mới sau đây:

+ Một là, bổ sung nguyên tắc “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi vào khoản 1 Điều 91. Theo đó, khi tiến hành tố tụng, cơ quan và người có thẩm quyền phải lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp đối với tâm, sinh lý người dưới 18 tuổi và bảo đảm rằng quyết định đó là tốt nhất cho họ.

+ Hai là, trên cơ sở kế thừa quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên, khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục:

  1. a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;
  2. b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật tức là phạm tội rất nghiêm trọng thuộc một trong 29 tội danh mà BLHS năm 2015 quy định đối tượng này phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
  3. c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.

Như vậy, so với BLHS 1999, khoản 2 Điều 91 BLHS 2015 đã mở rộng đối tượng người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự, quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với các em được miễn trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm tính khả thi cũng như hiệu quả áp dụng của chế định pháp lý này.

Khi áp dụng khoản 2 Điều 91 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi cần chý ý một số điểm sau đây:

+Việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục có thể được áp dụng ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi phạm tội, cơ quan và người có thẩm quyền cần xem xét, quyết định miễn trách nhiệm hình sự càng sớm càng tốt.

+ Ngoài việc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 91, người dưới 18 tuổi còn có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự. Điểm khác nhau cơ bản giữa việc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 và khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự thể hiện ở chỗ: Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự được không phải chịu thêm bất kỳ biện pháp giám sát, giáo dục nào; người được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91 vẫn phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức trong một thời hạn nhất định tuỳ từng trường hợp cụ thể.

 + Ba là, tại khoản 4 Điều 91 quy định khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Đồng thời, tại khoản 6 Điều luật này cũng quy định Toà án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

Việc bổ sung quy định nêu trên tại khoản 4 và khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm sự đồng bộ với Công ước về Quyền trẻ em mà Việt Nam đã tham gia. Bởi theo Công ước về Quyền trẻ em thì khi xét xử người dưới 18 tuổi, Tòa án trước hết phải cân nhắc khả năng áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc khả năng áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với các em và chỉ khi xét thấy việc áp dụng các biện pháp này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa thì mới áp dụng hình phạt đối với các em.

Thứ hai, quy định các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, bao gồm: Khiển trách; Hòa giải tại cộng đồng; Giáo dục tại xã, phường thị trấn. Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật hình sự, thì việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự khi có sự đồng ý của người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Trong đó:

+ Khiển trách là một trong ba biện pháp giám sát, giáo dục có thể được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ để sửa chữa lỗi lầm, khắc phục hậu quả và cải tạo để trở thành người có ích. Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự, thì khiển trách chỉ áp dụng đối với: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự; Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án. Về thẩm quyền, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng và thực hiện việc khiển trách. Việc khiển trách đối với người phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người phạm tội. Người bị khiển trách phải thực hiện các nghĩa vụ: Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; Tham giá các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp trong khoản thời gian từ 3 tháng đến 01 năm theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

+ Hoà giải tại cộng đồng là biện pháp áp dụng đối với: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. Người dược áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện các nghĩa vụ sau: Xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại; Tuân thủ pháp luật, nộ quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; Tham giá các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

+ Giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 là một trong những biện pháp tư pháp được áp dụng thay thế hình phạt. Nay theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, thì giáo dục tại xã, phường, thị trấn là một trong những biện pháp giám sát, giáo dục được áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 95 Bộ luật hình sự, thì:

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn từ 01 năm đến 02 năm và giao người được miễn trách nhiệm hình sự cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc giám sát, giáo dục. Người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải thực hiện các nghĩa vụ: Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; Chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; Không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

Để khuyến khích người được giám sát, giáo dục cải tạo tốt, khoản 3 Điều 95 cBộ luật hình sự quy định trường hợp người được giáo dục đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định chấm dứt thời hạn giám sát, giáo dục.

Thứ tư, hình phạt cải tạo không giam giữ (Điều 100) được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể hóa và mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt này đối với cả trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý và trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nhằm tăng cường cơ hội áp dụng chế tài không tước tự do đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Thứ năm, sủa đổi, bổ sung quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo hướng Tòa án quyết định “mức hình phạt cao nhất” theo độ tuổi của người dưới 18 tuổi phạm tội. Cụ thể:

Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá một phần ba mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng; Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá một phần hai mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng.

Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 100 (Cải tạo không giam giữ) và Điều 101 (Tù có thời hạn) của Bộ luật hình sự; Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không quá một phần hai mức phạt quy định tại các Điều 99 (Phạt tiền), Điều 100 và Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội phụ thuộc vào độ tuổi và thời điểm thực hiện tội phạm so với thời điểm người đó đủ 16 hoặc đủ 18 tuổi. Cụ thể:

Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau: Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Bộ luật hình sự; Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Bộ luật hình sự [7].

Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau: Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 103 Bộ luật hình sự; Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.

Việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự. Theo đó, việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước hoặc sau khi có bản án này, được thực hiện theo nguyên tắc chung như đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội (quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 103 của Bộ luật hình sự.

Việc giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được thực hiện theo quy định tại Điều 105 Bộ luật hình sự. Theo đó:

“1. Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Tòa án xét giảm; riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể giảm đến 04 năm nhưng phải bảo đảm đã chấp hành ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên.

  1. Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
  2. Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại”.

Việc tha tù trước hạn có điều kiện đối với người dưới 18 tuổi được thực hiện theo quy định tại Điều 106 Bộ luật hình sự. Theo đó, người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù, nếu không thuộc các trường hợp (không được tha tù trước thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật hình sự[8]) có thể được tha tù trước hạn khi có đủ các điều kiện sau đây: Phạm tội lần đầu; Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; Đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù; Có nơi cư trú rõ ràng.

Nghĩa vụ trong thời gian thử thách, chế tài đối với người dưới 18 tuổi được tha tù trước thời hạn vi phạm nghĩa vụ và việc rút ngắn thời gian thử thách đối với họ được thực hiện như quy định đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội (quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 66 của Bộ luật hình sự).

Thứ sáu, việc xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án được thực hiện theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự. Theo đó, người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; Người bị áp dụng biện pháp tư pháp “Giáo dục tại trường giáo dưỡng”.

Như vậy, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ bị coi là có án tích khi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (do cố ý hoặc vô ý). Theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên xoá án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.

[1] BLHS năm 1999 quy định trường hợp nêu trên, trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

[2] Xem: Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10, về việc thi hành Bộ luật hình sự.

[3] Khoản 2 Điều 12 BLHS quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

  1. a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);
  2. b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
  3. c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
  4. d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

  1. e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

[4] Theo khoản 2 Điều 14 Bộ luật hình sự,  thì người chuẩn bị phạm một trong các tội sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự:

– Điều 108 (tội phản bội Tổ quốc); Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân); Điều 110 (tội gián điệp); Điều 111 (tội xâm phạm an ninh lãnh thổ); Điều 112 (tội bạo loạn); Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 114 (tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 117 (tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 118 (tội phá rối an ninh); Điều 119 (tội chống phá trại giam); Điều 120 (tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 121 (tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân);

– Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);

– Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản);

– Điều 299 (tội khủng bố); Điều 300 (tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (tội rửa tiền).

[5] – 06 tội xâm phạm ANQG: phản bội Tổ quốc; hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; gián điệp; bạo loạn; khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

– 02 tội xâm phạm TMSK: giết người và hiếp dâm người dưới 16 tuổi.

– 01 tội về kinh tế: sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh.

– 03 tội phạm về ma túy: sản xuất trái phép chất ma tuý; vận chuyển trái phép chất ma tuý; mua bán trái phép chất ma tuý.

– 01 tội xâm phạm ATCC: khủng bố.

– 02 tội phạm tham nhũng: tham ô tài sản; nhận hối lộ.

– 03 tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh: phá hoại hoà bình gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh.

[6] BLHS 1999 có 29/263 tội danh có quy định hình phạt tử hình, chiếm tỷ lệ trên 11% thuộc 09/14 nhóm tội phạm; BLHS 1999 (sửa đổi năm 2009) có 22/272 tội danh có quy định hình phạt tử hình, chiếm tỷ lệ trên 8% thuộc 09/14 nhóm tội phạm.

[7] Theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Bộ luật hình sự, thì: nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm; nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội và thời điểm thực hiện tội so với thời điểm đủ 16 tuổi

[8] Khoản 2 Điều 66 Bộ luật hình sự quy định không tha tù trước thời hạn đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội khủng bố; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc người bị kết án từ 10 năm tù trở lên đối với tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con người; 07 năm tù trở lên đối với các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và sản xuất trái phép, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy; b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp không thi hành án tử hình (quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật hình sự).


Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *